Bệnh bướu cổ
Bệnh bướu cổ hiện nay là một loại bệnh khá phổ biến tuy nhiên cách phòng ngừa và phương pháp chữa trị bệnh bướu cổ khá đơn giản nếu các bạn có những hiệu biết cơ bản về bệnh này .
Định nghĩa
Bướu cổ dịch tễ còn gọi là bướu giáp địa phương hay bướu giáp lưu hành: Khi nhu cầu sinh lý của iode không đủ trong quần thể dân chúng, thì sẽ phát sinh hàng loạt bất thường, bao gồm tổn thương chức năng tuyến giáp va, khi thiếu iode trầm trọng gây ra bướu cổ dịch tễ hay đần độn dịch tễ, giảm thông minh và tăng tử suất chu sinh và sơ sinh. Những biến chứng này thật sự là 1 trở ngại lớn cho sự phát triển của quần chúng và được nhóm lại thành một tên chung là rối loạn do thiếu iode.
Từ đó người ta định nghĩa bướu cổ dịch tể như là sự phì đại của tuyến giáp khu trú hay toàn thể trong hơn 10% quần chúng.
Định nghĩa bướu cổ rải rác là sự phì đại tổ chức tuyến giáp có tính chất lành tính toàn bộ hay từng phần không có triệu chứng suy hay cường giáp, không do viêm, không có tính chất địa phương (tức vùng không có dịch tễ), các yếu tố gây bệnh không ảnh hưởng trong quần thể chung.
Nhiều nguyên nhân khác nhau làm tuyến giáp lớn có lẽ là chung cho cả bướu cổ lẻ tẻ và bướu cổ dịch tễ.
Bệnh bướu cổ
Bệnh bướu cổ, hay còn gọi là bướu giáp, thực chất là tên gọi tập hợp của rất nhiều bệnh tuyến giáp khác nhau : bướu cổ đơn thuần, bướu cổ địa phương, bệnh Basedow, bướu nhân tuyến giáp, ung thư tuyến giáp...
Nguyên nhân của bệnh
- Nguyên nhân dẫn đến bệnh bướu cổ chủ yếu do tác nhân thiếu hụt I-ốt trong cơ thể gây ra nhưng không phải cứ bổ sung đủ I-ốt là bệnh sẽ khỏi. Bướu cổ thực chất là căn bệnh rất khó chữa trị vì tác nhân của nó liên quan đến hệ thần kinh. Bình thường, cơ thể con người thu nhận một số I-ốt vô cơ vào dinh dưỡng cho tuyến giáp trạng. Có một lý do nào đó, tuyến giáp trạng không nhận được đầy đủ hàm lượng I-ốt nên đã tạo thành kích thích tố tuyến giáp trạng dẫn đến hiện tượng sự bài tiết sẽ tụt giảm. Vì nguyên nhân này, tuyến giáp trạng phải tăng thêm kích thước để sản xuất hoóc-môn, biến thành sưng to, gọi là bướu ở cổ.
- Rối loạn bẩm sinh, rối loạn này có tính chất gia đình.
- Do dùng thuốc và thức ăn: do dùng kéo dài một số loại thuốc như: muối Lithium (dùng trong chuyên khoa tâm thần), thuốc kháng giáp tổng hợp, thuốc có chứa I - ốt như: thuốc cản quang, thuốc trị hen, thấp, khớp, chống loạn nhịp v.v…Do ăn nhiều thức ăn ức chế tổng hợp hoóc-môn giáp như các loại rau họ cải, măng , sắn,…
Ngoài ra, những phụ nữ bị kích thích thần kinh trong thời kỳ phát triển hoặc có thai và cho con bú cũng dễ bịnguy cơ bướu cổ. Vì vậy phương pháp tốt nhất để phòng ngừa vẫn là bổ sung đầy đủ vi lượng i-ốt cho bữa ăn hàng ngày. Nếu đã có dấu hiệu sưng to nên đến bác sĩ chuyên khoa hoặc viện để xạ trị hay giải phẫu.
Triệu chứng của bệnh bướu cổ chủ yếu là to tuyến giáp.
Thể tán phát gặp nhiều ở nữ ở tuổi dậy thì, có thai, cho con bú, lúc tắt kinh thường to hơn và qua những kỳ đó tuyến lại nhỏ hơn. Thường tuyến giáp to nhẹ tản mạn, chất mềm và trơn láng. Đến tuổi trung niên về sau, bướu có thể cứng và có nốt cục.
Bệnh bướu cổ
Đến tuổi trung niên, bướu có thể cứng và có nốt cục.
Bướu cổ địa phương tính to nhỏ không chừng (rất nhỏ hoặc rất to). Theo độ to nhỏ có thể chia:
- Độ l: Nhìn kỹ có khi phải nhìn nghiêng mới phát hiện hoặc phải sờ nắn.
- Độ 2: Nhìn thẳng đã thấy to.
- Độ 3: Bướu quá to.
Đôi khi bướu ở vị trí đặc biệt hoặc bị chèn ép khó chẩn đoán.
- Bướu giáp chìm: Bướu ở cổ nhưng trong lồng ngực sau xương ức. Bướu làm khó chịu mỗi khi nuốt và thở. Bướu trong lồng ngực, X quang thấy như một u trung thất.
- Bướu dưới lưỡi: Gặp ở phụ nữ, ở đáy lưỡi làm cho khó nhai, khó nuốt và khó nói.
Bệnh bướu cổ
Bướu dưới lưỡi làm cho khó nhai,khó nuốt và khó nói.
Triệu chứng của bệnh bướu cổ mới bắt đầu nhỏ mặt bóng nhẵn, về sau có thể to nhỏ không chừng, cứng thành cục hoặc nang, bề mặt có thể có tĩnh mạch nổi còng quèo. Trường hợp quá to sẽ có hiện tượng chèn ép như nếu chèn ép khí quản sinh ho, khó thở, vướng cổ, chèn ép thực quản thì nuốt khó, chèn hầu họng thì khàn giọng… Có khi xuất huyết trong nang gây đau và bướu to đột ngột.
Bài thuốc trị bướu cổ:
+ Phương 1:
- Thành phần: Bối mẩu lớn, Hải tảo, Mẩu lệ phân lượng bằng nhau.
- Cách dùng: Các vị thuốc trên nghiền thành bột, mỗi lần uống 2 chỉ, mỗi ngày 2 lần.
- Chứng thích ứng: Bướu cổ đơn thuần, cũng có thể dùng chữa Bướu cường giáp (Basedow).
+ Phương 1:
- Thành phần: Bối mẩu lớn, Hải tảo, Mẩu lệ phân lượng bằng nhau.
- Cách dùng: Các vị thuốc trên nghiền thành bột, mỗi lần uống 2 chỉ, mỗi ngày 2 lần.
- Chứng thích ứng: Bướu cổ đơn thuần, cũng có thể dùng chữa Bướu cường giáp (Basedow).
+ Phương 2: Công kiên thang gia vị
- Thành phần: Tô tử 15g, Mẩu lệ 15g, Hạ khô thảo 15g, Vương bất lưu hành 50g, Sài hồ 8g, Hoàng cầm 8g, Ðảng sâm 15g, Xuyên tiêu 5g, Cam thảo 5g, Ðại táo 5 trái.
- Cách dùng: Sắc uống, phân sớm tối 2 lần uống.
- Chứng thích ứng: Bướu cổ đơn thuần cùng với U bướu tuyến giáp.
- Thành phần: Tô tử 15g, Mẩu lệ 15g, Hạ khô thảo 15g, Vương bất lưu hành 50g, Sài hồ 8g, Hoàng cầm 8g, Ðảng sâm 15g, Xuyên tiêu 5g, Cam thảo 5g, Ðại táo 5 trái.
- Cách dùng: Sắc uống, phân sớm tối 2 lần uống.
- Chứng thích ứng: Bướu cổ đơn thuần cùng với U bướu tuyến giáp.
+ Phương 3:
- Chủ trị: Bứơu tuyến giáp trạng địa phương.
- Thành phần: Hạ khô thảo 30g, Sơn tra 20g, Trân châu mẫu 20g.
- Cách dùng: Sắc nước uống.
- Chủ trị: Bứơu tuyến giáp trạng địa phương.
- Thành phần: Hạ khô thảo 30g, Sơn tra 20g, Trân châu mẫu 20g.
- Cách dùng: Sắc nước uống.
+Phương 4:
- Thành phần: Sanh địa, Câu kỉ tử, Huyền sâm, Sung úy tử, Bạch thược, Hải thảo, Bạch thược, Côn bố, Hạ khô thảo, Tật lê, Tam lăng phân lượng bằng nhau.
- Cách dùng: Đem thuốc trên tất cả nghiền thành bột mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi hoàn nặng 10g, mỗi ngày uống 2 ~3 hoàn.
- Hiệu quả điều trị: Dùng phương này điều trị bệnh nhân bị Cường tuyến giáp trạng 138 ca, sau khi dùng thuốc 1 ~3 liệu trình, trong đó trị khỏi 121 ca; hiệu quả rõ 15 ca; vô hiệu 2 ca.
- Thành phần: Sanh địa, Câu kỉ tử, Huyền sâm, Sung úy tử, Bạch thược, Hải thảo, Bạch thược, Côn bố, Hạ khô thảo, Tật lê, Tam lăng phân lượng bằng nhau.
- Cách dùng: Đem thuốc trên tất cả nghiền thành bột mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi hoàn nặng 10g, mỗi ngày uống 2 ~3 hoàn.
- Hiệu quả điều trị: Dùng phương này điều trị bệnh nhân bị Cường tuyến giáp trạng 138 ca, sau khi dùng thuốc 1 ~3 liệu trình, trong đó trị khỏi 121 ca; hiệu quả rõ 15 ca; vô hiệu 2 ca.
+ Phương 5:
- Thành phần: Hoàng kỳ 30 ~ 45g; Bạch thược, Hương phụ mỗi vị 12g, Sanh địa 15g, Hạ khô thảo 30g; Hà thủ ô 20g.
- Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
- Chứng thích ứng: Cường tuyến giáp trạng.
- Thành phần: Hoàng kỳ 30 ~ 45g; Bạch thược, Hương phụ mỗi vị 12g, Sanh địa 15g, Hạ khô thảo 30g; Hà thủ ô 20g.
- Cách dùng: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
- Chứng thích ứng: Cường tuyến giáp trạng.
+ Phương 6:
- Chủ trị: Bướu giáp.
- Thành phần: Ý dĩ nhân 50g, Hải đới 30g, Bạch giới tử 10g (vải gói). Đậu hủ trắng 2 miếng.
- Cách dùng: Thêm nước nấu cách thủy cho nhừ, bỏ Bạch giới tử, phân 2 lần uống.
- Chủ trị: Bướu giáp.
- Thành phần: Ý dĩ nhân 50g, Hải đới 30g, Bạch giới tử 10g (vải gói). Đậu hủ trắng 2 miếng.
- Cách dùng: Thêm nước nấu cách thủy cho nhừ, bỏ Bạch giới tử, phân 2 lần uống.
+ Phương 7:
- Chủ trị: Chứng mắt lồi do công năng tuyến giáp trạng phát triển quá mức bình thường.
- Thành phần: Bồ công anh 60g.
- Cách dùng: Sắc nước thành 2 chén, uông ấm 1 chén, riêng 1 chén thừa lúc còn nóng xông rửa chổ bệnh.
- Chủ trị: Chứng mắt lồi do công năng tuyến giáp trạng phát triển quá mức bình thường.
- Thành phần: Bồ công anh 60g.
- Cách dùng: Sắc nước thành 2 chén, uông ấm 1 chén, riêng 1 chén thừa lúc còn nóng xông rửa chổ bệnh.
Nguyên tắc ăn uống khi bị bệnh bướu cổ
Sưng tuyến giáp dạng địa phương thường do ăn uống thiếu iod gây nên, vì thế cần bổ sung thêm thức ăn có hàm lượng iod cao như hải sản sò, ngao, hải đới... và quan trọng nhất là muối iod cần dùng thường xuyên.
Sưng tuyến giáp trạng dạng phân tán tiêu hao iod trong cơ thể, trong các thời kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai, giai đoạn dậy thì... thường phát sinh bệnh, do đó trong thời kỳ này cần bảo đảm cung cấp đủ iod cho cơ thể qua các thức ăn có nhiều iod nhất là hải sản và sử dụng muối iod thường xuyên.
Nguyên nhân bệnh sưng tuyến giáp trạng dạng đơn thuần, Đông y cho rằng đó là sự ngưng kết của đờm ẩm, cách chữa nên tiêu đờm, làm mềm khối rắn, tan kết, thức ăn như hải tảo, sò biển, mẫu lệ, xuyên bối...
Một vài thức ăn có thể dẫn tới phát sinh bệnh nên ăn ít như cải củ, rau cải trắng...
Một số món ăn, bài thuốc
Bài 1: Hải đới 100g, rửa sạch, nấu chín, ăn mỗi ngày 1 lần, dùng chữa sưng tuyến giáp trạng dạng địa phương.
Bài 2: Sứa 50g, rửa sạch, thịt mẫu lệ 50g, thêm gia vị, có thể ăn thường xuyên, dùng chữa sưng tuyến giáp trạng dạng địa phương.
Bài 3: Đậu tương 150g, thịt mẫu lệ 50g, thêm gia vị nấu ăn thường xuyên, dùng chữa bướu cổ đơn thuần.
Bài 4: Sò biển 50g, tử thái 50g, rửa sạch cho vào nồi nấu canh, có thể ăn thường xuyên, dùng cho người bị sưng tuyến giáp trạng dạng địa phương.
Bài 5: Hẹ 150g, thịt ngao sò 100g, rửa sạch thái vụn, xào chín, dùng cho người bướu cổ rõ rệt.
Bài 6: Hồng xanh 1.000g, rửa sạch giã nát, nước hồng cho vào nồi đun tới chín đặc, thêm mật ong bằng số lượng nước hồng vào, sắc tới đặc, đợi nguội dùng ăn, ngày 1 lần, mỗi lần 1 thìa canh, liệu trình 1 tháng, dùng cho người sưng tuyến giáp trạng rõ rệt.
Bệnh bướu cổ đơn thuần hay sưng tuyến giáp trạng dạng đơn thuần, việc phòng bệnh và điều trị không thể coi nhẹ. Lấy ăn uống để phòng và chữa trị có hiệu quả rất tốt, lấy nguyên tắc là tăng thêm hấp thu thức ăn chứa iod, làm mềm khối rắn kêt tụ, thông khí giải uất.


0 nhận xét: